
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
(Hồ Chí Minh)
I. VĂN BẢN CHÍNH LUẬN VÀ NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN
1. Tìm hiểu văn bản chính luận
a. Tuyên ngôn
- Văn bản chính luận thời xưa gồm: hịch, cáo, thư, sách, chiếu, biểu,…
- Văn bản chính luận thời hiện đại: các cương lĩnh, tuyên bố, tuyên ngôn, lời kêu gọi, lời hiệu triệu, chính luận, báo cáo, tham luận, phát biểu trong hội thảo, hội nghị…
Nhận xét:
- Thể loại: Văn chính luận, tuyên ngôn, tuyên bố
- Mục đích: tuyên bố độc lập dân tộc, tuyên ngôn dựng nước của nguyên thủ quốc gia (công bố nền độc lập của đất nước).
- Thái độ, quan điểm: khẳng định quyền được sống, tự do, mưu cầu hạnh phúc, giọng văn hùng hồn danh thép. Người viết đứng trên lập trường của dân tộc, nguyện vọng của dân tộc để viết lên bản tuyên ngôn lịch sử.
b. Bình luận thời sự
CAO TRÀO CHỐNG NHẬT, CỨU NƯỚC
Ngày 9-3-1945, ở Đông Dương, phát xít Nhật quật thực dân Pháp xuống chân đài chính trị. Không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ, trong các thành phố lớn, thực dân Pháp đều hạ súng xin hàng. Nhiều đội quân của Pháp nhằm biên giới cắm đầu chạy. Riêng ở Cao Bằng và Bắc Cạn, một vài đội quân của Pháp định thống nhất hành động với Quân Giải phóng Việt Nam. Ở Bắc Cạn, họ đã cùng ta tổ chức “Ủy ban Pháp – Việt chống Nhật”. Nhưng không bao lâu họ cũng bỏ ta chạy sang Trung Quốc. Có thể nói là quân Pháp ở Đông Dương đã không kháng chiến và công cuộc kháng chiến ở Đông Dương là công cuộc duy nhất của nhân dân ta.
(Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập I,
NXB Sự thật, 1976)
Nhận xét:
- Thể loại: Văn chính luận.
- Mục đích: chỉ rõ kẻ thù là phát xít Nhật =>Tổng kết một giai đoạn cách mạng
- Thái độ, quan điểm: Đứng trên lập trường của dân tộc, lập trường của người cộng sản trong sự nghiệp chống đế quốc và phát xít giành độc lập tự do cho dân tộc.
c. Xã luận
VIỆT NAM ĐI TỚI
Khắp non sông Việt Nam đã bừng dậy một sinh khí mới. Sinh khí ấy đang biểu hiện trên khuôn mặt từng người dân, trong từng thôn bản, ngõ phố, trên từng cánh đồng, công trường, trong từng viện nghiên cứu, trên các chốt tiền tiêu đầu sóng ngọn gió,…
Rạo rực đất trời, rạo rực lòng người! […]
Đất nước đang căng tràn sức xuân trong ý chí và khát vọng vươn tới của 80 triệu người con đất Việt. Nguồn sinh lực mới được kết tụ và nhân lên trong xuân Giáp Thân đang hứa hẹn tạo ra một sức băng lướt trên con đường dài xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Xuân mới, thế và lực mới, chúng ta tự tin đi tới!
(Theo báo Quân đội nhân dân, số Tết 2004)
Nhận xét:
- Thể loại: Văn chính luận.
- Mục đích: Phân tích những thành tựu mới về các lĩnh vực của đất nước, vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
- Thái độ, quan điểm: Khẳng định nước Việt Nam căng tràn sức sống, trỗi dậy mãnh liệt, sức sống ấy biểu hiện ở mọi nơi, mọi người, thành tựu về nhiều lĩnh vực, giọng văn hào hứng sôi nổi. Đó là niềm tự hào, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của cả dân tộc nhân dịp đầu năm mới.
2. Nhận xét chung về văn bản chính luận và ngôn ngữ chính luận
a.
- Ngôn ngữ chính luận tồn tại ở cả dạng viết và nói được trình bày trong những văn kiện tài liệu chính trị và những sự kiện chính trị có quy mô lớn, nhỏ.
- Mục đích của ngôn ngữ chính luận: trình bày ý kiến hoặc bình luận, đánh giá 1 sự kiện, 1 vấn đề chính trị, 1 chính sách, chủ trương về văn hóa, xã hội theo một quan điểm chính trị nhất định.
b.
- Dù là nói hay viết thì ngôn ngữ chính luận hay văn bản chính luận đều sử dụng phương pháp nghị luận.
- Có nhiều tác phẩm chính luận ra đời nhằm phục vụ cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa ra quan điểm cá nhân, trở thành khẩu hiệu hành động của phong trào cách mạng.
- Tác phẩm chính luận tiêu biểu: Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến – Hồ Chí Minh,…
GHI NHỚ
Ngôn ngữ chính luận và ngôn ngữ được dùng trong văn bản chính luận hoặc lời nói mang tính khẩu ngữ trong các hội nghị, hội thảo,… nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng… theo một quan điểm chính trị nhất định.
LUYỆN TẬP
Câu 1: Phân biệt khái niệm nghị luận và chính luận.
Trả lời:
- Nghị luận:
+ Là một phương pháp tư duy (diễn giảng, lập luận, bàn bạc), một kiểu làm văn trong nhà trường (nghị luận văn chương, nghị luận xã hội).
+ Sử dụng ở tất cả mọi lĩnh vực khi cần trình bày, diễn đạt.
- Chính luận:
+ Là một phong cách ngôn ngữ độc lập với các phong cách ngôn ngữ khác.
+ Chỉ thu hẹp trong phạm vi trình bày quan điểm về vấn đề chính trị.
Câu 2: Vì sao có thể khẳng định đoạn văn sau thuộc phong cách chính luận?
Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.
(Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta)
Đoạn văn trên là đoạn văn theo phong cách ngôn ngữ chính luận vì:
- Mục đích của đoạn trích: Trình bày, đánh giá vấn đề mang tính thời sự, chính trị - tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
- Dùng ngôn ngữ chính luận: sử dụng nhiều từ chính trị (dân ta, tổ quốc, yêu nước, xâm lăng, bán nước, cướp nước…)
- Câu văn ngắn gọn, mạch lạc chặt chẽ có sức thuyết phục.
- Lập luận chặt chẽ, mạch lạc, hình ảnh so sánh cụ thể => sức hấp dẫn và truyền cảm
- Đoạn văn thể hiện rõ quan điểm chính trị về truyền thống yêu nước.
Câu 3: Phân tích bài Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh để chứng minh: lời văn trong văn bản giản dị, dễ hiểu, ngắn gọn nhưng diễn đạt nội dung phong phú, lập luận vững chắc.
- Lời văn thể hiện rõ lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến, thái độ dứt khoát với thực dân Pháp, kêu gọi cả nước quyết tâm đánh giặc.
- Luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, luận cứ đáng tin cậy, logic, khoa học, có sức thuyết phục cao:
+ Nêu tình thế chúng ta phải chiến đấu:
· “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.”
· “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”
+ Vũ khí chiến đấu của chúng ta là: súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc => khẳng định đó là cuộc chiến tranh nhân dân.
+ Tinh thần quyết tâm chiến đấu để giữ nước: “Bất kì người Việt Nam nào với bất kì phương tiện gì cũng có thể dùng làm vũ khí đều phải đứng lên chống Pháp” (từ ngữ giản dị: đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ; vũ khí: súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc...).
+ Thể hiện niềm tin vào chiến thắng: “Nhất định thắng lợi, độc lập, thống nhất. Khẳng định niềm tin chiến thắng của chúng ta”.
- Dùng lí lẽ, dẫn chứng để phơi bày dã tâm xâm lược của kẻ thù.
- Giải thích, thuyết phục mọi người cần tham gia đánh giặc cứu nước như thế nào => lí lẽ và dẫn chứng xác đáng, chặt chẽ.
- Giọng văn hùng hồn, đanh thép, có sức truyền cảm mạnh mẽ.
Được cập nhật: hôm qua lúc 17:54:51 | Lượt xem: 450




