Cộng đồng chia sẻ tri thức Lib24.vn

Hình tượng người lính trong bài thơ cùng tên của Quang Dũn

Gửi bởi: Nguyễn Thị Vân 1 tháng 10 2019 lúc 8:58:27 | Update: 19 tháng 7 lúc 4:07:40 Kiểu file: DOCX | Lượt xem: 480 | Lượt Download: 0 | File size: 0.025805 Mb

Nội dung tài liệu

Tải xuống
Link tài liệu:

Các tài liệu liên quan


Có thể bạn quan tâm


Thông tin tài liệu

Trong nền văn học nước nhà, thơ ca Cách Mạng Việt Nam luôn được coi là tài sản vô giá của dân tộc, bởi chúng phản ánh cả một giai đoạn lịch sử đấu tranh hào hùng của đất nước và con người Việt. Đặc biệt trong thời kì kháng chiến, với cảm hứng yêu nước, thi ca đã thực sự hun đúc nên tượng đài của những chiến sĩ anh hùng, những “Thạch Sanh của thế kỉ XX”. Hình ảnh anh bộ đội cu Hô trở thành hình tượng đep nhất, đáng tự hào nhất của thơ ca kháng chiến chông Pháp. Họ là những người sông co li tưởng săn sàng lấy máu mình đê tô thăm lá cờ cho Tô quôc, đông thời đo cung tràn đây tâm hôn lãng mạn hào hoa. Qua việc tìm hiêu hình ảnh anh bộ đội trong bài thơ “Tây Tiến”, một bài thơ tiêu biêu nhất của Quang Dung noi riêng, của thơ ca kháng chiến chông Pháp noi chung, chúng ta co thê thấy ro. Tây Tiến là tên của một đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947, giữa những ngày đâu vô cùng gian khô của cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp. Linh Tây Tiến phân đông là thanh niên Hà Nội, trong đo co nhiều học sinh, sinh viên, tri thức trẻ. Đơn vị này hoạt động chủ yếu trên địa bàn núi rừng miền Tây Băc sang tới Thượng Lào, co nhiệm vu bảo vệ biên giới Việt - Lào và phôi hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. Sinh hoạt vô cùng thiếu thôn và gian khô nhưng linh Tây Tiến vẫn phơi phới tinh thân lãng mạn anh hùng. Bài thơ được viết ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây) cuôi năm 1948, lúc Quang Dung rời xa đơn vị chưa lâu. Bài thơ ban đâu co tên là Nhớ Tây Tiến, sau đôi lại là Tây Tiến. Qua nỗi nhớ cảnh vật và con người Tây Tiến, bài thơ bày tỏ niềm ngưỡng mộ những người linh trong kháng chiến chông Pháp và ngợi ca một thời gian khô mà anh hùng trong lịch sử dân tộc. Nỗi nhớ ấy xuyên suôt cả ba đoạn và bôn câu kết thúc của bài thơ. Trước hết là khô thơ đâu của bài, Quang Dung thê hiện nỗi nhớ của mình về đoàn quân Tây Tiến thông qua nỗi nhớ ấy ta thấy được những hình ảnh bi tráng thê hiện vẻ đep của những anh hùng Tây Tiến: Sông Mã xa rôi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi. Nỗi nhớ ấy băt đâu bằng tiếng gọi Tây Tiến ơi. Tiếng gọi đo sao mà nghe tha thiết như thế, no như vọng vào không gian của con sông Mã, quay ngược lại với những kỉ niệm thời xưa. Một thời đạn bom đo đã đê lại nỗi ám ảnh cho những người trực tiếp tham gia chiến đấu. Cách hiệp vân ở những chữ cuôi mỗi câu khiến cho câu thơ càng vang xa, ngân mãi trong đêm: ”ơi, vơi, hơi”. No giông như lúc những anh linh Tây Tiến trút hơi thở mệt mỏi sau một ngày hành quân. Hai địa danh Sài Khao và Mường Lát hiện lên khăc sâu vào nỗi nhớ của tác giả. Hai địa danh ấy găn với những cuộc hành 1 quân của đoàn quân Tây Tiến. “Đêm hơi” khiến cho độc giả nghĩ tới nhiều sự vật kì vĩ, đêm hơi co thê là đêm đây sương và hơi sương, đêm hơi còn là đêm của không khi lạnh của rừng sâu, nhưng cung co thê là sự di chuyên nhe nhàng của những chiến sĩ đoàn quân Tây Tiến hay chinh là những hơi sương trong đêm hành quân ấy thê hiện những kho khăn vất vả của đoàn quân. Những kho khăn của những người linh tây tiến lại trở nên đep đẽ và nên thơ trong những vân thơ của Quang Dung. Đo là những gian nan mà những người linh phải trải qua, chinh những gian nan đo lại càng tô đậm vẻ đep bi tráng của họ… Những triền dôc khiến người ta mới nhìn đã thấy ngại, hai từ thăm thẳm trong câu thơ khiến độ hun hút của những con dôc lại càng trở nên nguy hiêm biết bao nhiêu. Chưa dừng lại đo, những hình ảnh hun hút, đâu súng của những người linh đang đùa giỡn với mây trời: Dôc lên khúc khuỷu dôc thăm thẳm Heo hút côn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuông Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Những chi tiết, hình ảnh thơ của tác giả đây ấn tượng. Sương dày như lấp cả đoàn quân, mưa nhiều đến nỗi làm cho những ngôi nhà như trôi bông bềnh giữa biên khơi… Nhiều câu thơ sử dung hàng loạt thanh trăc: “dôc”, “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”… làm hiện lên cái gập ghềnh, thăm thẳm, khúc khuỷu, cheo leo của con đường hành quân. Những độ cao độ sâu ấy được tinh bằng ngàn thước, nhấn mạnh vào những gian khô mà đoàn quân phải vượt qua. Tiếp đo là những chữ dùng rất bạo, nhất là ba chữ “súng ngửi trời” gợi lên độ cao chong mặt. Hai câu sau co sự phôi thanh rất độc đáo. Điệp ngữ "ngàn thước" là một ước lệ nghệ thuật co tinh định lượng, khăc họa vẻ đep hùng vĩ, chênh vênh, kì thú của núi rừng miền Tây. Yếu tô tương đông của điệp ngữ "ngàn thước" và tinh chất tương phản của các động từ "lên – xuông" trong hai vế câu đã tạo ra cảm giác về một nét gập đột ngột, dữ dội cho câu thơ, cung là cách đê nhà thơ gợi tả thật tài hoa độ cao của dôc, độ sâu của vực: bên này đường lên núi dựng đứng, vút cao; bên kia vực đô xuông hun hút, hiêm trở. Trong cả câu thơ đặc biệt giàu tinh tạo hình và biêu cảm, dôc núi miền Tây được miêu tả hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng đều khăc họa được đông thời cả sự hiêm trở lẫn vẻ đep hùng vĩ, kì thú. Thông qua bức tranh thiên nhiên, co thê thấy vẻ đep tâm hôn của những người linh Tây Tiến: họ lạc quan, mạnh mẽ, coi thường mọi gian truân, vất vả; những thử thách của thiên nhiên chỉ càng làm ro hơn ý chi, sức mạnh, tâm hôn trẻ trung và tư chất nghệ sĩ của họ. Sau những câu thơ hun hút, nhọc nhằn miêu tả dôc núi, câu thơ tả mưa miên man trong bảy thanh bằng, cùng với rất nhiều âm tiết mở; câu thơ đã gợi tả một không gian mênh mang, dàn trải, nhạt nhòa trong mưa "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi". Dòng thơ mở ra một khoảng không gian 2 bát ngát, câu thơ như bay ngang trời. Ta như hình dung được người linh đang leo lên những côn mây, một hôm nào đo, dừng chân bên dôc núi phong tâm măt nhìn ngang ra xa. Ánh măt những người linh xa nhà bâng khuâng hướng tới những ngôi nhà bông bềnh, thấp thoáng, ẩn hiện trong màn mưa hư ảo… Săc thái phiếm chỉ khiến cum từ "nhà ai" trở nên mơ hô, xa xăm. Săc thái nghi vấn lại gợi nỗi trăn trở trong lòng người. Cả câu thơ chỉ co duy nhất tiếng "nhà" mang thanh huyền như một thoáng trâm lăng, suy tư đê rôi sau đo, tất cả những thanh không chơi vơi trong nỗi nhớ. Giữa mưa rừng buôt lạnh, giữa núi rừng mênh mông, ở những địa danh như Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông… rất xa lạ, làm tăng thêm ấn tượng về sự hoang sơ, kì vĩ, bi mật của rừng thiêng, hình ảnh ngôi nhà gợi cảm giác ấm áp, nhớ nhung dễ làm xao xuyến lòng người xa quê. Chúng cho biết không chỉ miền đất mà người linh đã đi qua mà khi “vừa mới đọc lên thôi đã thấy mòn chân mỏi gôi” (Trân Lê Văn). Núi rừng miền Tây tiếp tuc được miêu tả trong những nét vẽ đây ấn tượng: "Chiều chiều oai linh thác gâm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người" "Thác gâm thét" và "cọp trêu người" là hai hình ảnh nhân hoa thê hiện sự dữ dội, hoang sơ đây bi hiêm của núi rừng miền Tây. Bút pháp đôi lập của cảm hứng lãng mạn được sử dung trong phép đôi thanh rất tinh tế ở hai câu thơ này. Nếu câu trên co các tiếng "thác", "thét" mang thanh trăc ở âm vực cao thì câu dưới là các tiếng "Hịch", "cọp" cung mang thanh trăc nhưng lại thuộc âm vực thấp. Và co thê thấy những dấu săc trong câu trên như gợi âm thanh của tiếng thác nước man dại ở vòm cao thăm thẳm; những dấu nặng liên tiếp trong câu thơ dưới lại như một phỏng tiếng bước chân nặng nề của thú dữ, gợi ra cái thâm u, bi ẩn đây đe dọa ở vòm tôi thấp của núi rừng. "Chiều chiều" và "đêm đêm" là những trạng ngữ chỉ dòng thời gian tuân hoàn, miên viễn, vĩnh hằng. Những sức mạnh thiên nhiên khủng khiếp đã ngự trị núi rừng miền Tây không phải một chiều, một đêm mà là "chiều chiều – đêm đêm" – sự ngự trị muôn đời! Nhưng cung chinh điều này lại càng khiến chân dung người chiến sĩ Tây Tiến thêm hào hùng, mạnh mẽ: họ đã hành quân qua những vùng đất hoang sơ, dữ dội, văng bong con người, những vùng đất tưởng như chỉ là vương quôc riêng của heo hút mây trời, của rừng thiêng nước độc; vùng đất ấy nay đã in dấu chân của những người chiến sĩ kiên cường, dung cảm trong đoàn quân Tây Tiến. Sự vất vả, gian truân cung như vẻ đep trong tâm hôn người linh Tây Tiến đã it nhiều thê hiện trong những câu thơ miêu tả cảnh thiên nhiên miền Tây và hành trình qua miền Tây, ngoài ra còn co những câu thơ trực tiếp miêu tả hình ảnh người linh cung như những kỉ niệm của họ trong chặng đường hành quân. Trước hết là một ki ức sâu đậm của Quang Dung về hình ảnh một người chiến sĩ Tây Tiến trên đường hành quân: 3 "Anh bạn dãi dâu không bước nữa Guc lên súng mu bỏ quên đời! Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khoi Mai Châu mùa em thơm nếp xôi" Từ láy "dãi dâu" đã thê hiện toàn bộ những vất vả, nhọc nhằn của các anh khi hành quân qua miền Tây, khi vượt qua những núi cao, vực sâu, thác ghềnh dữ dội, vượt qua những năng mưa, sương gio miền Tây ... Hai câu thơ tựa như một bức ki họa đây ấn tượng về người linh Tây Tiến. Sự hôn nhiên của người linh được thê hiện qua những giây phút mệt mỏi, guc lên ba lô và ngủ, bỏ lại sau đo những kho khăn vất vả, những hiêm nguy của kháng chiến. Hình ảnh người linh guc lên súng mu dãi dâu không bước nữa là một hình ảnh đep. Câu thơ nhằm noi giảm đi cái chết, cái hi sinh của những người chiến sĩ ấy. Đo là một vẻ đep bi tráng, cái hi sinh kia là bi nhưng trong cái bi ấy ta lại thấy một cái tráng lệ vô cùng. Họ co thê hi sinh nhưng trong một tư thế rất nhe nhom, “bỏ quên đời” những ki ức về những lúc dừng chân mệt mỏi, những kỉ niệm với những buôi chiều và ban đêm với những con thú dữ gâm rú lên, nhớ những đêm mùa nếp xôi ở Mai Châu. Ở đoạn thơ tiếp theo người linh hiện ra với vẻ hôn nhiên, co một đời sông tinh thân cung vô cùng vui vẻ lạc quan, những hình ảnh liên hoan đời thường, cùng với cô gái Viên Chăn xinh đep kiều diễm với tình dân quân thân thiết đep sao. Bỏ qua những vất vả những người linh hiện ra với vẻ đep oai hùng mà cung hôn. Doanh trại bừng lên hội đuôc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hôn thơ “Doanh trại” là nơi đong quân của Tây Tiến cung là nơi diễn ra lễ hội văn hoa đậm đà tình quân dân. Đông bào dân tộc đã tu họp về đây đê sinh hoạt và gop vui tinh thân với bộ đội Tây Tiến. Từ “Bừng” gợi cảm giác ấm áp, gợi niềm vui lan tỏa. Đêm rừng núi thành đêm hội. Ngọn đuôc nứa, đuôc lau thành “đuôc hoa” (“Đuôc hoa” là hoa chúc – cây nến đôt lên trong phòng cưới, đêm tân hôn). Ở đây, “đuôc hoa” co ý nghĩa là gợi không khi ấm cúng gợi niềm vui, niềm hạnh phúc trong lòng các chiến sĩ. “Bừng” chỉ ánh sáng của đuôc hoa, của lửa trại sáng bừng lên; cung còn co nghĩa là tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cười noi tưng bừng rộn rã. Co thê hình dung đêm hội mà Quang Dung viết trên đây như một đám cưới tập thê. Từ “Kìa em” trong câu thơ thứ hai thê hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của linh Tây Tiến trước vẻ đep của cô gái vùng cao trong trang phuc “xiêm áo” lộng lẫy cùng dáng vẻ “e ấp” rất thiếu nữ. Quang Dung phát hiện ra vẻ đep rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phuc. Yêu say từ voc dáng đến trang phuc. Chinh trang phuc truyền thông đậm đà bản săc văn hoa của các thiếu nữ Tây Băc càng tôn vinh lên vẻ đep của họ. Quang Dung không khỏi 4 không thán phuc đến ngạc nhiên trước vẻ đep ấy. Em trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ đep xứ lạ phương xa. Những thiếu nữ Mường, những thiếu nữ Thái, những cô gái Lào xinh đep, duyên dáng “e ấp”, xuất hiện trong bộ xiêm áo rực rỡ. Cung co thê hiêu người linh đang đong giả con gái trong những trang phuc dân tộc rất độc đáo, tạo tiếng cười vui cho đêm văn nghệ. Ngỡ ngàng nữa là tiếng khèn “man điệu”. Khèn là một loại nhạc cu của người dân tộc miền núi Tây Băc còn “man điệu” là một điệu nhạc “lạ” đặc trưng văn hoá của những con người nơi đây. Và hòa vào tiếng khèn ngất ngây ấy là điệu múa Lam vông quyến ru của những cô gái Lào đã “xây hôn thơ” trong lòng các chàng linh trẻ. Chinh cái lạ ấy làm đăm say tâm hôn những chàng trai Tây Tiến gôc Hà Nội hào hoa. Chinh trong không khi của âm nhạc, vu điệu ấy đã chăp cánh cho tâm hôn những người linh Tây Tiến thăng hoa, mọi mỏi mệt như bị đẩy lùi, thêm vào đo là lòng yêu đời, yêu miền đất lạ. Chinh vì thế mọi cảm giác mỏi mệt, mọi vất vả đều tan biến. Thay vào đo là niềm lạc quan, yêu đời nâng bước họ mạnh mẽ hơn trên con đường hướng về “Viên Chăn xây hôn thơ”. Từ đo, ta co thê thấy được rằng các chiến sĩ của chúng ta dù trong những giờ phút vui vẻ, thoải mái nhất thì tâm hôn của họ vẫn luôn hướng về li tưởng cách mạng cao đep. Bôn câu sau là khung cảnh chia tay trên nền sông nước Tây Băc vừa thực vừa mộng hoang văng, tĩnh lặng, buôn thi vị. Cả bôn câu là cảnh săc Tây Băc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Co thấy hôn lau nẻo bến bờ Co nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lu hoa đong đưa So với bôn câu thơ trên là hình ảnh không khi đêm lễ hội tưng bừng hoà hợp với ánh sáng lung linh và tâm hôn trẻ trung, yêu đời của các chiến sĩ Tây Tiến thì bôn dòng thơ tiếp theo, Quang Dung đưa người đọc đến với hình ảnh của con người và núi rừng Tây Băc trong một buôi chiều sương … Một không gian bảng lảng khoi sương như trong coi mộng cứ thế hiện ra. Thiên nhiên Tây Băc hiện lên theo chiều hướng nhe hoá. Cái dữ dội, khôc liệt được đẩy lùi đi và thay vào đo là những hình ảnh nhe nhàng và thơ mộng. Hình ảnh đâu tiên là hình ảnh chiều sương cho ta thấy nét đặc trưng vôn co của núi rừng nơi đây. Nhưng sương ở đây không phải là sương lấp, sương che hay sương phủ mà là ''Người đi Châu Mộc chiều sương ấy''. No gợi màu săc bảng lảng, sương khoi vừa co nỗi buôn man mác. Đại từ ''ấy'' làm ro nghĩa hơn cho từ chiều sương đê nhấn mạnh rằng đây là một buôi chiều sương rất đặc biệt, chiều sương trong nỗi nhớ đã thành kỷ niệm nên tình người cung man mác, bâng khuâng! 5 Không gian nên thơ ấy làm nền cho người thơ xuất hiện: Giữa hình ảnh thiên nhiên Tây Băc hiện lên đây sức sông và lãng mạn thì hình ảnh con người nơi đây hiện lên mang một vẻ đep khỏe khoăn, bất khuất, kiên cường: ''Co nhớ dáng người trên độc mộc''. Điệp ngữ “co thấy – co nhớ” luyến láy như chạm khăc vào lòng người một nỗi nhớ da diết, cháy bỏng khôn nguôi. Độc mộc là một loại thuyền được làm từ thân cây gỗ lớn, dài. Dáng người trên độc mộc ở đây co thê là hình ảnh mềm mại, uyên chuyên của những cô gái Thái, Mèo đang đưa các chiến sĩ vượt sông. Cung co thê hiêu là dáng hình kiêu dung của các chiến sĩ Tây Tiến đang chèo chông con thuyền vượt sông, vượt thác dữ tiến về phia trước. Tất cả những hình ảnh ấy đều đã đê lại trong lòng của Quang Dung một hình ảnh kho phai nhoà… Thiên nhiên Tây Băc vôn nôi tiếng với con sông Mã, một dòng sông đã chứa trong no biết bao dữ dội. Nhưng ở đây, dòng sông Mã đã hiện lên với sự nhe nhàng đến kỳ lạ. Những cánh hoa rừng không bị ''dôi lên dập xuông'' mà là “Trôi dòng nước lu hoa đong đưa''. Từ láy “đong đưa” được sử dung rất gợi: Cánh hoa rừng như cung quyến luyến con người. Cánh hoa rừng như bàn tay vẫy chào người linh, tiễn người linh vượt sông đi đánh giặc. Với những nét kiên cường dù cho sự khăc nghiệt làm cho ý chi và lòng quyết tâm của chiến sĩ không hề bị phôi phai, những đoàn binh phải chịu đựng hàng trăm những gian nan và nguy hiêm đo đã tác động xấu đến thân thê của người linh, nhưng no không làm phôi phai đi tinh thân của người chiến sĩ Tây Tiến. “Tây Tiến đoàn binh không mọc toc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Măt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Không chỉ kho khăn trên chiến trường chiến đấu, những câu chuyện về bệnh tật và nơi khi hậu khăc nghiệt cung được đưa vào trong thơ của Quang Dung. Không một chút giấu diếm, sự thiếu thôn hay những căn bệnh như sôt rét. Chinh Hữu trong bài thơ "Đông chi" đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy: "Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sôt run người vâng trán ướt mô hôi" Căn bệnh đáng sợ khiến cả binh đoàn bị rung hết toc được Quang Dung khai thác hết sức chân thực của người linh Tây Tiến, dù kho khăn khăc nghiệt nhưng tinh thân chiến đấu chưa bao giờ kết thúc. Hình ảnh quân xanh màu lá là những hình ảnh gây gò ôm nhưng không hề yếu mà vẫn dữ oai hùm. Măt trừng gợi cho ta liên tưởng đến sự căm thù giặc của những anh hùng tây tiến. Những ánh măt hiện lên lửa hi vọng và tinh 6 thân chiến đấu oai hùng, không một chút pho mặc cho sô phận, cung co thê đo chinh là sự thức trăng không ngủ được vì lo cho biên giới hoặc mở măt đê nhớ những bong kiều thơm kia. Đo là sự hi sinh của những người chiến sĩ ấy, họ phân lớn là những tri thức Hà Thành ngày đêm nghĩ đến quê nhà với những bong hông mà không bao giờ mờ nhạt trong lòng họ. Đo chinh là cái bi của vẻ đep người linh. Nhưng no lại rất tráng vì người ta chết đi vì li tưởng cao cả của mình thì đo chinh là cái chết đep. Thay vì chiếu đăp lên, sự ra đi của các anh được vi như sự ra đi của những người được những người khác tôn trọng và biết ơn. Những áo bào thì thay bằng chiếu thê hiện sự giản dị của những người linh. Chiến trường khăc nghiệt làm cho anh phải ra đi chỉ co mảnh chiếu che thân. Đất me chinh là nơi các anh sinh ra cung là nơi mà các anh về, đất me che chở cho các anh mãi mãi yên bình với giấc ngủ ngàn thu của mình. Một lân nữa, hình ảnh sông Mã hiện ra, gâm lên khúc hành ca, như kinh cẩn tiễn đưa linh hôn các anh, không phải là sự chơi vơi nữa mà là tiếng gâm, no càng tạo nên chất tráng cho bài thơ. “Tây Tiến” được xem là một thi phẩm xuất săc, gân như đạt đến sự toàn bich về nghệ thuật. Bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn, đậm chất bi tráng, nhiều sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu. Hình ảnh thơ sáng tạo mang săc thái thẩm mĩ phong phú. Ngôn ngữ thơ đa săc thái, phong cách; (trang trọng, cô kinh; sinh động, gợi tả gợi cảm…), co những kết hợp từ độc đáo (nhớ chơi vơi, Mai Châu mùa em…), tên địa danh vừa cu thê xác thực vừa gợi cảm giác lạ lẫm. Bao trùm bài thơ là giọng điệu khi tha thiết bôi hôi, khi hôn nhiên vui tươi, khi bâng khuâng man mác, khi trang trọng, khi trâm lăng… Cả bài thơ là nỗi nhớ da diết của nhà thơ đôi với đơn vị Tây Tiến: Nhớ những chặng đường hành quân với bao gian khô, thiếu thôn, hi sinh mất mát mà vẫn co nhiều kỉ niệm đep, thú vị, ấm áp; nhớ những đông đội Tây Tiến anh hùng… Qua đo, tác giả đã khăc họa thành công hình tượng người linh Tây Tiến hào hùng, hào hoa và vẻ đep hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên miền Tây tô quôc. Cung từ đo mà toát lên chất lãng mạn bi tráng và vẻ đep độc đáo của hình tượng người linh cách mạng trong thơ Quang Dung Dưới ngòi bút hào hoa của Quang Dung những hình ảnh về những người linh Tây Tiến vừa hôn hậu, giản dị lại hết sức khi phách. Qua đây ta cung thấy được vẻ đep bi tráng của những chiến binh Tây Tiến, cảm nhận được như thế chúng ta càng thêm yêu hơn những con người vì quê hương đất nước. Bài thơ xứng đáng là một tượng đài bằng ngôn ngữ đã bất tử hoa phẩm chất anh hùng của anh bộ đội cu Hô trong cuộc kháng chiến chông Pháp rất đỗi gian khô và vui tươi, hào hùng: “Tây Tiến biên cương mờ khoi lửa Quân đi lớp lớp động cây rừng Và con người ấy, bài thơ ấy 7 Vẫn sông muôn đời cùng núi sông”. 8