Cộng đồng chia sẻ tri thức Lib24.vn

Đề kiểm tra học kì 2 môn Ngữ Văn 9 trường THCS Thanh Đa năm 2014-2015

a6c3b1b2d7bafff075ecd6748d8a937b
Gửi bởi: Nguyễn Minh Lệ 10 tháng 8 2021 lúc 21:55:15 | Update: 16 giờ trước (18:41:20) | IP: 14.245.250.39 Kiểu file: DOCX | Lượt xem: 275 | Lượt Download: 1 | File size: 0.021818 Mb

Nội dung tài liệu

Tải xuống
Link tài liệu:

Các tài liệu liên quan


Có thể bạn quan tâm


Thông tin tài liệu

TRƯỜNG THCS THANH ĐA ĐỀ THI THAM KHẢO MÔN NGỮ VĂN LỚP 9 HKII Năm học : 2014 – 2015 Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: “ Tôi rửa cho Nho bằng nước đun sôi trên bếp than.Bông băng trắng.Vết thương không sâu lắm, vào phần mềm. Nhưng vì bom nổ gần, Nho bị choáng.Tôi tiêm cho Nho. Nho lim dim mắt, dễ chịu, có lẽ không đau lắm.Chị Thao lẩn quẩn bên ngoài, lúng túng như chẳng biết làm gì mà lại rất cần được làm việc. Chị ấy sợ máu.” Phần 1 (6 điểm) Câu 1: ( 1điểm) Đoạn trích trên trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai ? Tác phẩm đó được viết trong thời kì nào? Câu 2: ( 1điểm) Tác phẩm đã làm nổi bật vẻ đẹp gì của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Câu 3 :(1điểm) Chỉ ra câu có chứa thành phần biệt lập, gạch chân và gọi tên thành phần biệt lập đó. Câu 4 : ( 3điểm) Viết một văn bản ngắn (khoảng 1 trang giấy thi) nêu suy nghĩ của em về đạo lí “ Uống nước nhớ nguồn”. Phần 2 (4 điểm) “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, một bài thơ có ý nghĩa không nhỏ. ĐÁP ÁN Phần 1. (6 điểm) Câu 1: _ Mức tối đa (1 điểm): Học sinh xác định đúng tên tác phẩm và tên tác giả , thời kì sáng tác của tác phẩm . _ Mức chưa tối đa (0,5 điểm) : Học sinh xác định đúng một đến hai trong ba ý tên tác phẩm, tác giả,thời kì sáng tác. _ Mức không đạt (0 điểm) : Học sinh không làm bài hoặc làm lạc đề. Câu 2 : _ Mức tối đa (1 điểm): Tác phẩm đã làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. _ Mức chưa tối đa (0,5 điểm): Chỉ trả lời được một trong các nội dung trên hoặc có nội dung trả lời khác đáp ứng yêu cầu. _ Mức không đạt (0 điểm): Không trả lời chính xác hoặc không làm bài. Câu 3 : _ Mức tối đa (1 điểm) : Chỉ ra được câu có chứa thành phần biệt lập, gạch chân và gọi tên thành phần biệt lập . - Nho lim dim mắt, dễ chịu, có lẽ không đau lắm . - có lẽ: thành phần tình thái _ Mức chưa tối đa (0,5 điểm) : Chỉ ra được câu có chứa thành phần biệt lập nhưng không xác định và gọi tên thành phần biệt lâp. _ Mức không đạt (0 điểm) : Học sinh xác định sai hoàn toàn hoặc không trả lời. Câu 4: _ Mức tối đa (3 điểm): A.Về phương diện nội dung (2 điểm) - HS bàn luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí: Uống nước nhớ nguồn. - Bài làm cần đạt những ý chính sau đây: a. Mở bài: Giới thiệu câu tục ngữ và nêu tư tưởng chung của nó. b. Thân bài: b1. Giải thích nội dung câu tục ngữ “ Uống nước nhớ nguồn” - Uống nước: hưởng thụ thành quả, sản phẩm vật chất và tinh thần. - Nguồn: nguồn gốc, cội nguồn của tất cả những thành quả mà con người được hưởng. - Nhớ nguồn: thành quả không tự nhiên mà có, cho nên người thụ hưởng phải biết tri ân, gìn giữ, phát huy những thành quả mà người làm ra chúng. b2. Đánh giá câu tục ngữ: - Câu tục ngữ là lời dạy. lời khuyên, lời nhắc nhở bởi cuộc đời có nhiều người tốt nhưng cũng không ít kẻ vô ơn; - Ngày nay câu tục ngữ có nhiều lớp nghĩa: không quên tổ tiên, nòi giống; không quên những người đã chiến đấu, hi sinh để bảo vệ quê hương; không quên những ai đã dạy dỗ, giúp đỡ mình; không quên ơn ông bà, cha mẹ, người thân. - Một đất nước, xã hội,gia đình mà giữ được truyền thống đạo lí “ Uống nước nhớ nguồn” là một đất nước, xã hội, gia đình tốt đẹp, bền vững. Người mà biết “ Uống nước nhớ nguồn” là người có đạo đức tốt đẹp. - Nhớ nguồn không chỉ là biết ơn, biết gìn giữ, bảo vệ thành quả đã có mà bản thân mỗi người phải cố gắng cống hiến để người sau được hưởng thêm thành quả mới, có như thế xã hội mới phát triển. c. Kết bài: Liên hệ bản thân, xác định lối sống. B. Về phương diện hình thức (1 điểm): Sử dụng thuần thục và hợp lí các thao tác nghị luận; kết cấu bài chặt chẽ; hành văn, diễn đạt trong sáng, có sức thuyết phục. Mức chưa tối đa (2,5 điểm): - Đúng thể loại nghị luận, có bố cục ba phần rõ ràng, hành văn mạch lạc, rõ ràng. - Bàn luận về vấn đề nghị luận sơ sài. Mức chưa tối đa (2 điểm): - Đúng thể loại nghị luận, có bố cục ba phần rõ ràng. - Nội dung sơ sài, khái quát, thiếu dẫn chứng. Mức chưa tối đa (1,5 điểm): - Đúng thể loại nghị luận, có bố cục ba phần. - Chưa tập trung vào yêu cầu chính, nói lan man. Mức chưa tối đa (1 điểm): - Có Mở bài. - Không nắm phương pháp làm văn nghị luận. Mức không đạt (0,5 điểm): Viết được phần Mở bài. Mức không đạt (0 điểm): - Không biết cách làm bài. - Không làm bài. Phần 2 (4 điểm) Các tiêu chí về nội dung bài viết (3 điểm) 1. Mở bài (0,5 điểm) - Mức tối đa: HS tạo tình huống dẫn dắt, giới thiệu bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, hoàn cảnh sáng tác, khái quát ý nghĩa… - Mức chưa tối đa (0,25 điểm): HS biết cách dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nhưng chưa hay/ còn mắc lỗi về diễn đạt, dùng từ. - Không đạt: Lạc đề/ mở bài không đạt yêu cầu, sai cơ bản về các kiến thức đưa ra/ hoặc không có mở bài. 2. Thân bài (2 điểm) - Đây là bài văn nghị luận chứng minh: Ý nghĩa không nhỏ của nhan đề bài thơ “ Mùa xuân không nhỏ”. Học sinh có thể liên hệ, so sánh với một số bài thơ có đề tài mùa xuân của các tác giả khác. Bài làm cần đạt các yêu cầu : - Ý 1: Hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên đất trời đang về.( dẫn chứng- phân tích khổ 1) - Ý 2: Hình ảnh mùa xuân của đất nước “ cứ đi lên phía trước”( dẫn chứngphân tích khổ 2,3 ) - Ý 3: ( Trọng tâm): Khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống, cống hiến phần tốt đẹp dù nhỏ bé của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước: + Khát vọng được hòa nhập : Được làm một con chim, một cành hoa, một nốt trầm, là những gì bình dị, nhỏ bé nhưng có ích cho đời( phân tích khổ 4). + Khát vọng được cống hiến: Mỗi con người là một “ mùa xuân nho nhỏ” để “ lặng lẽ dâng cho đời”. Đó là ý thức, trách nhiệm đối với đất nước( phân tích khổ 5). - “ Mùa xuân ta xin hát” “ câu Nam ai, Nam bình” của quê hương, của dân tộc.Đó là niềm vui, niềm tin của nhà thơ.( Phân tích khổ 6). Mức tối đa ( 2 điểm): - HS biết cách thể hiện những cảm xúc trong bài thơ, xác định đúng trọng tâm phân tích là khổ thơ 4,5. Văn mạch lạc, trong sáng , rõ ràng. Mức chưa tối đa (1,5 điểm): - HS biết cách thể hiện những cảm xúc trong bài thơ còn hời hợt; chỉ phân tích mà chưa khẳng định được “ ý nghĩa không nhỏ” của bài thơ. - Thể hiện cảm xúc chưa đầy đủ theo nội dung bài thơ, chỉ có được 2 trên 3 nội dung. Mức chưa tối đa (1 điểm): - Cảm xúc rời rạc ,nội dung chỉ đạt phân nửa theo yêu cầu. - Chưa biết làm văn nghị luận. Mức chưa tối đa (0,5 điểm): - Nội dung rất sơ sài, thiếu ý. 3. Kết bài (0,5 điểm) - “ Mùa xuân nho nhỏ” nhưng ý nghĩa lớn lao. - Liên hệ: Ý thức trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của đất nước. Các tiêu chí khác (1 điểm) 1. Hình thức (0,25 điểm) - Mức tối đa: - HS viết được một bài văn với đủ 3 phần (MB, TB, KB) - Các ý trong TB được sắp xếp hợp lý. - Chữ viết rõ ràng. - Có thể mắc một số ít lỗi chính tả. - Không đạt: HS chưa hoàn thiện bố cục bài viết ( ví dụ thiếu kết luận); hoặc các ý trong phần TB chưa được chia tách hợp lý; hoặc chữ viết xấu, không rõ ràng, mắc nhiều lỗi chính tả hoặc HS không làm bài. 2. Sáng tạo (0,5 điểm) - Mức đầy đủ: HS đạt được 2 – 3các yêu cầu sau: 1) Đây là bài văn nghị luận chứng minh: Ý nghĩa không nhỏ của nhan đề bài thơ “ Mùa xuân không nhỏ”. Học sinh có thể liên hệ, so sánh với một số bài thơ có đề tài mùa xuân của các tác giả khác. 2) Có được quan điểm riêng hợp lý mang tính cá nhân về một nội dung cụ thể nào đó trong bài viết. 3) Thể hiện sự tìm tòi trong diễn đạt: chú ý tạo nhịp điệu cho câu, dùng đa dạng các kiểu câu phù hợp với mục đích trình bày. - Mức chưa đầy đủ (0,25 điểm): HS đạt được 2 trong số các yêu cầu trên. Hoặc HS đã thể hiện sự cố gắng trong việc thực hiện một trong số các yêu cầu trên nhưng kết quả đạt được chưa tốt (dựa trên sự đánh giá của GV) - Không đạt: GV không nhận ra được những yêu cầu trên thể hiện trong bài viết của HS hoặc HS không làm bài. 3. Lập luận (0,25 điểm) - Mức tối đa: HS biết cách lập luận chặt chẽ, logic giữa các phần MB, TB, KB; sử dụng hợp lý các thao tác lập luận đã học. - Không đạt: HS không biết cách lập luận, các phần trong bài viết rời rạc, các ý trùng lặp, sắp xếp lộn xộn, thếu định hướng cho bài làm.